Tam Dao National Park and Buffer Zone Management Project (TDMP)
Thông tin về GTZ:
Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức, với tên chính thức là Deutsche Gesellschaft fur Technische Zusammenarbeit (GTZ) GmbH, là một tổ chức thuộc Chính phủ Đức hoạt động trong lĩnh vực hợp tác quốc tế. Nhiệm vụ của GTZ là góp phần tác động tích cực vào sự phát triển về mặt chính sách, kinh tế, sinh thái và xã hội của 130 nước đối tác, cải thiện điều kiện sống và triển vọng lâu dài của người dân ở các nước đó.
Các hoạt động của GTZ được tài trợ chính bởi Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức (BMZ). Ngoài ra, GTZ thực hiện sứ mệnh của mình dưới sự uỷ nhiệm của các Bộ khác của Đức, Chính phủ các nước đối tác và các tổ chức quốc tế như Uỷ ban Châu Âu (European Commission), Liên hợp quốc (United Nations), Ngân hàng Thế giới (World Bank), cũng như các tổ chức, cá nhân khác.
GTZ đã có những hoạt động tích cực tại Việt Nam từ năm 1993, và hiện đang hỗ trợ Chính phủ Việt Nam trong việc triển khai khoảng 20 chương trình và dự án trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Hiện tại, hoạt động hợp tác kỹ thuật của GTZ tại Việt Nam tập trung vào 3 lĩnh vực ưu tiên trọng tâm: Phát triển kinh tế bền vững, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Chăm sóc sức khoẻ và lĩnh vực đan xen giảm nghèo.
Dự án Quản lý Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm (GTZ-TDMP):
Chủ quản dự án: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT).
Đối tác thực hiện: Vườn quốc gia Tam Đảo (VQG TĐ).
Đối tác khác: UBND và các ban ngành liên quan của 3 tỉnh vùng đệm VQG TĐ.
Đối tác Đức: Tổ chức hỗ trợ phát triển Đức (DED), Trung tâm di cư quốc tế và Phát triển Đức (CIM).
Thời gian thực hiện: Giai đoạn II: 10/2006 – 9/2009.
Giới thiệu dự án:
Khu bảo tồn Vườn quốc gia Tam Đảo nằm cách Hà Nội 70 km về phía Bắc. Khu bảo tồn bao gồm một diện tích lớn rừng tự nhiên (khoảng 35.000 ha) với hơn 2.000 loài động vật và thực vật sinh sống, trong số đó Phong lan và Hoa Trà là những loài đặc hữu của Tam Đảo. Việc thành lập Vườn quốc gia Tam Đảo vào năm 1996 dẫn đến hệ quả là tất cả những khu vực có độ cao từ 100m so với mực nước biển trở lên đều đặt dưới sự bảo vệ của luật pháp.
Có khoảng 200.000 người dân sinh sống trong khu vực xung quan VQG. Phần lớn người dân tạo thu nhập từ hoạt động nông nghiệp, trong khi đó vẫn sử dụng VQG như là một nguồn cung cấp thực phẩm, chất đốt, cây thuốc, nước uống, tưới tiêu và là nơi chăn thả gia súc của mình.
Mục tiêu tổng thể của dự án:
Nâng cao tính hiệu quả của VQG và thiết lập một cơ chế hợp tác tích cực giữa cộng đồng dân cư và các cơ quan cơ liên quan nhằm quản lý bền vững và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm.
Các nhóm mục tiêu:
Dự án dành ưu tiên cho những xã và hộ gia đình phụ thuộc nhiều nhất vào tài nguyên của VQG Tam Đảo; cụ thể dự án hỗ trợ cộng đồng dân cư nghèo và các hộ gia đình là người dân tộc thiểu số.
Cán bộ kỹ thuật của Ban quản lý VQG, các cơ quan chịu trách nhiệm trong những lĩnh vực như lập kế hoạch, quản lý môi trường, lâm nghiệp và nông nghiệp ở các tỉnh, huyện và xã, các cơ quan cung cấp dịch vụ khuyến nông và những tổ chức quần chúng, tất cả các hoạt động như là cầu nối giữa dự án và các nhóm mục tiêu.
Thực hiện dự án:
Dự án hỗ trợ các cơ quan đối tác của mình xây dựng và triển khai hệ thống quản lý bền vững cho VQG Tam Đảo và vùng đệm. Khởi đầu bằng việc thiết lập một cơ sở lập kế hoạch, theo đó một mặt điều tra nhu cầu sử dụng tài nguyên hiện tại của người dân và mặt khác dự báo nhu cầu sử dụng tài nguyên trong tương lai và những tác động môi trường gây ra bởi các kế hoạch phát triển chính thức.
Chính vì mục đích đó mà những công cụ lập kế hoạch mới, ví dụ: các kế hoạch sử dụng tài nguyên thôn bản và đánh giá môi trường chiến lược cho kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội đã được giới thiệu cấp huyện và tỉnh. Trên cơ sở những bản kế hoạch này, các biện pháp thí điểm cùng được triển khai nhằm làm giảm sức ép lên Vườn quốc gia và để quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên ở vùng đệm theo hướng thân thiện với môi trường.
Công cụ giáo dục và truyền thông môi trường cải tiến đã giúp nhiều chủ thể khác nhau, đặc biệt những nhà lập kế hoạch, chính trị gia, và những người ra quyết định có nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc bảo tồn tự nhiên.
Một bước đi khác nhằm đảm bảo duy trì tác động của dự án chính là thể chế hoá có chọn lọc một số phương pháp, khái niệm đã được phát triển và bài học kinh nghiệm thu được. Chính vì mục đích đó, dự án tiến hành hợp tác với Bộ NN&PTNT, Bộ Tài nguyên & môi trường, các tổ chức Phi chính phủ quốc tế và một số trường đại học và dạy nghề. Bên cạnh những hoạt động khác, dự án còn đang xây dựng các khoá tập huấn và chương trình đào tạo cho kiểm lâm, đánh giá môi trường chiến lược, giám sát môi trường, lập quy hoạch sử dụng tài nguyên, và truyền thông môi trường; dự án còn đồng thời hỗ trợ xây dựng hướng dẫn triển khai đánh giá môi trường chiến lược.
Nói chung, dự án góp phần nâng cao năng lực cho các cán bộ cơ quan Nhà nước và người sử dụng tài nguyên địa phương, những người mà hoạt động của họ sẽ góp phần bảo tồn bền vững sự đa dạng sinh học tại VQG Tam Đảo và nâng cao sinh kế cho cộng đồng dân cư vùng đệm.
Bên cạnh đó, cán bộ VQG Tam Đảo còn được tập huấn một cách có hệ thống và bồi dưỡng thêm một số kỹ năng để có thể triển khai hiệu quả những biện pháp bảo vệ và kiểm soát tại VQG, thu thập một cách có hệ thống dữ liệu về sự phân bố các loài quý hiếm, và xác định những khu vực để áp dụng các biện pháp bảo tồn cụ thể. Ngoài ra còn một số lĩnh vực trọng tâm chính, đó là xúc tiến các hoạt động du lịch đem lại lợi ích cho người nghèo và thân thiện với môi trường, giáo dục môi trường và thiết lập mối quan hệ công chúng tại Trường rừng VQG, là ngôi trường do dự án hỗ trợ xây dựng.
Các tác động:
Năng lực lập kế hoạch và quản lý của Ban quản lý VQG và của các cơ quan ban ngành hữu quan ở cấp tỉnh, huyện và xã vùng đệm được nâng cao là kết quả của nhiều hoạt động của dự án cho tới ngày hôm nay. Những kết quả thu được của nhiều hoạt động từ các qui trình lập kế hoạch mới đang được lồng ghép vào kế hoạch làm việc hàng năm của các cơ quan ban ngành và các xã, và góp phần cải tiến qui trình lập kế hoạch ngành và kế hoạch 5 năm. Kinh nghiệm trong công tác lập kế hoạch này đã khiến cho các nhà quản lý trong lĩnh vực môi trường và lập kế hoạch mở rộng các chương trình giám sát môi trường cũng như thiết lập một hệ thống giám sát thường xuyên thông qua một số chỉ số chính đối với bảo tồn thiên nhiên.
Những mô hình và kỹ năng cải tiến trong quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên đang được các cơ quan khuyến nông và bản thân người dân phổ biến rộng rãi. Sự hiểu biết và nhận thức tốt hơn về các lợi ích môi trường mà VQG đem lại và đồng thời về những vấn đề môi trường gây ra do cách thức sử dụng tài nguyên hiện nay cho phép cán bộ cơ quan Nhà nước và các nhóm mục tiêu đóng góp tích cực hơn cho việc sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên ở VQG Tam Đảo và vùng đệm. |